Alice Cooper, vua của nhạc rock gây shock

Published On 20/9/2005 | By Jacob Tran | ROCK THẾ GIỚI

Lúc ban đầu, có một ban nhạc tên là Alice Cooper đựơc dẫn dắt bởi nam ca sĩ mang tên Vincent Damon Furnier. Dưới sự định hướng của anh, Alice Cooper đã tiên phong trong việc sáng tạo ra một thể loại heavy metal rock nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ và gây hiệu ứng sốc cho người nghe. Với phân lượng đồng đều các yếu tố của phim kinh dị, chương trình tạp kỷ, heavy metal, cùng loại nhạc rock vẫn thường được thanh niên Mỹ chơi trong các garage để xe, Alice Cooper đã thiết kế sân khấu biểu diễn theo sự chỉ đạo của Furnier.

Vào thời gian đó, Furnier cũng quyết định lấy cái tên “ái nam ái nữ” Alice Cooper làm nghệ danh cho mình. Bên cạnh những yếu tố liên quan đến thị giác vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc gây dựng nên hình ảnh của nhóm thì không thể phủ nhận sự thật là nhạc của họ cũng rất đặc biệt. Với những đoạn riff và giai địêu thô sơ, đơn giản được chiết xuất từ những bản pop guitar của thập niên ’60 được trộn lẫn trong những giai điệu khá phô trương, nhạc của họ có được những yếu tố cơ bản nhất của rock & roll và rất dễ nhớ, ngay cả khi ban nhạc đánh liều bước chân qua lãnh địa của loại hình rock nghệ thuật.

Khi ban nhạc tan rã, Furnier bắt đầu sự nghiệp solo và vẫn giữ lại tên Alice Cooper. Lược bỏ phần lớn sự hào nhoáng giả tạo vốn là dấu ấn riêng của ban nhạc, nhạc của Furnier giờ vẫn là heavy metal nhưng chân thật hơn nhiều. Mặc dù vậy khi lên sân khấu, Furnier vẫn giữ lại tất cả những dấu hiệu đặc trưng đã đem về cho anh danh hiệu “vua của loại nhạc rock gây sốc”.

Furnier thành lập nhóm nhạc đầu tiên của mình vào đầu những năm '60, Earwigs, khi chỉ là cậu bé tuổi teen của vùng Arizona. Đổi tên nhóm sang thành Spiders vào năm 1965, cuối cùng ban nhạc lại được gọi là Nazz (để không bị nhầm lẫn với nhóm nhạc cùng tên lúc bấy giờ của Todd Rundgren). Cả Spiders và Nazz đều đã phát hành được những đĩa đơn trong địa phương nhưng chỉ thành công ở mức độ không đáng kể. Năm 1968, sau khi phát hiện ra rằng có một ban nhạc khác cũng có tên gọi giống mình, họ lại đổi sang lấy tên là Alice Cooper. Theo như câu chuyện được lưu truyền giữa các thành viên trong ban nhạc thì cái tên đó đến với Furnier trong một lần anh chơi cầu cơ. Anh được cho biết mình là hiện thân của phù thuỷ Alice Cooper sống tận thế kỷ 17. Ban nhạc gồm các thành viên: Furnier – ca sĩ chính/người mà không lâu sau đó đổi tên mình sang Alice Cooper — guitarist Mike Bruce, guitarist Glen Buxton, bassist Dennis Dunaway, và tay trống Neal Smith. Năm 1968, cả nhóm chuyển địa bàn hoạt động sang California. Ở đó, họ gặp Shep Gordon (sau trở thành nhà quản lý của ban nhạc), và Frank Zappa, chủ hãng đĩa Straight Records (mà sau này Alice Cooper ký hợp đồng hợp tác.)

Alice Cooper phát hành album đầu tiên của mình, Pretties for You, vào năm 1969. Easy Action nối tiếp theo sau đó vào đầu năm 1970, nhưng không thể nào lọt được vào bảng xếp hạng. Danh tiếng của ban nhạc ở Los Angeles mờ nhạt dần, nên họ lại chuyển đến hoạt động tại Detroit, quê nhà của Furnier. Năm sau đó, những buổi diễn kỳ quái của họ càng trở nên cầu kỳ hơn bao giờ. Cuối năm 1970, hợp đồng của nhóm được chuyển nhượng sang cho Warner Bros., và nhóm trở lại phòng thu ghi âm album thứ ba của mình với nhà sản xuất Bob Ezrin.

Với sự trợ giúp của Ezrin, Alice Cooper đã phát huy được vẻ đẹp của loại nhạc heavy metal kinh điển trong Love It to Death (1971). Album cho ra đời single hit thứ 21 của nhóm, “Eighteen”; bản thân nó thì đứng ở vị trí thứ 35 và trở thành đĩa vàng. Thành công đó cho phép ban nhạc tiếp tục đầu tư vào những buổi diễn ấn tượng và công phu hơn, kết quả, họ thu hút được sự chú ý ở Mỹ và sau đó là ở Anh. Killer, phát hành cuối năm 1971, lại là một album vàng.

Phát hành vào mùa hè 1972, School's Out trở thành album đột phá của Alice Cooper khi chỉ đứng sau có một album trên bảng xếp hạng và tiêu thụ đựơc hơn một triệu bản. Bài hát chủ đề của album lọt vào Top10 ở Mỹ và là single No.1 tại Anh. Billion Dollar Babies, phát hành một năm sau đó, trở thành album thành công nhất của nhóm, đứng nhất ở cả hai thị trường Mỹ và Anh; single đầu tiên của album, “No More Mr. Nice Guy,” là một bản hit Top10 ở Anh và đứng thứ 25 tại Mỹ.

Cuối 1973, Muscle of Love xuất hiện trên thị trường nhưng lại không đạt được thành công như của Billion Dollar Babies. Sau Muscle of Love, Furnier và các thành viên còn lại của Alice Cooper chia tay nhau để theo đuổi con đường riêng của mình. Chính thức đổi tên thành Alice Cooper, Furnier dấn mình vào sự nghịêp solo; các thành viên còn lại cùng nhau phát hành một album mới dưới cái tên Billion Dollar Babies nhưng không đạt được thành công; các album solo đã ghi âm của Mike Bruce và Neal Smith thì lại không bao giờ được phát hành.

Mùa thu 1974, Alice Cooper's Greatest Hits với các bài hát được tuyển chọn từ năm album trước đó của Alice Cooper với hãng Warner được phát hành và có mặt ở Top10. Khi thực hiện album solo đầu tiên, Cooper đã thuê ban nhạc của Lou Reed – với các guitarist Dick Wagner và Steve Hunter, bassist Prakash John, keyboardist Joseph Chrowski, cùng tay trống Penti Glan – làm ban nhạc đệm cho mình. Welcome to My Nightmare, album solo đầu tay của Alice Cooper, được phát hành mùa xuân năm 1975. Album chiếm giữ một trong 10 vị trí của Top10 tại Mỹ, cho ra đời một bản hit ballad không sử dụng yếu tố địên tử “Only Women Bleed”; thành công của nó cũng đã đặt dấu chấm hết cho việc triệu tập lại ban nhạc Alice Cooper.

Album solo thứ hai, Alice Cooper Goes to Hell (1976), cũng lại là một album hit, đạt đĩa vàng tại Mỹ. Sau Alice Cooper Goes to Hell, sự nghịêp của Cooper bắt đầu trượt dốc, một phần là do sự thay đổi đường hướng và một phần do chứng nghiện rượu của anh. Năm 1978, Cooper bước vào giai đoạn phục hồi, sáng tác album mới nói về quá trình điều trị của mình, đặt tên là From the Inside (1978) – cùng với Bernie Taupin, người tham gia viết lời cho các ca khúc của Elton John. Trong suốt những năm đầu thập niên '80, Cooper vẫn tiếp tục phát hành thêm album và đi lưu diễn, mặc dù đã không còn giữ được danh tiếng như thời hoàn kim đầu những năm '70 của mình.

Cuối thập niên '80, sự quay trở lại của Cooper có thể nói là thành công nhờ vào việc xuất hiện trong các phim kinh dị cũng như tham gia một loạt chương trình trong đó các ban nhạc pop-metal bày tỏ lòng kính trọng đến những album và các buổi diễn kinh điển của anh thời gian trước. Constrictor, phát hành năm 1986 là album đánh dấu sự trở lại của anh, nhưng phải đến khi phát hành Trash (1989), Cooper mới có thể trở lại trong ánh hào quang của mình. Được sản xuất bởi phù thuỷ Desmond Child vốn nổi danh là một hitmaker, trong Trash có sự góp mặt của các khách mời như Jon Bon Jovi, Richie Sambora, và phần lớn các thành viên của Aerosmith; giúp đưa Cooper trở lại với Top10 của Anh và đứng 20 tại Mỹ, đạt đĩa bạch kim. “Poison,” một bản rock nhịp vừa của album trở thành single Top10 đầu tiên của Cooper kể từ 1977.

Sau khi phát hành Trash, thỉnh thoảng anh vẫn tham gia đảm nhận vai chính trong phim, lưu diễn và ghi âm nhưng vẫn không thể giữ được khán giả cho Trash. Mặc dù vậy, hai album Hey Stoopid (1991) và The Last Temptation (1994) đều rất tuyệt vời, những nỗ lực chuyên nghiệp này giúp cho Cooper được sùng bái trở lại mà không phá hoại gì đến sự tín nhiệm của giới phê bình dành cho các album hồi thập niên ’70 của anh. Sau album live, Fistful of Alice (1997), Cooper trở về hợp tác với một hãng đĩa Spitfire nhỏ hơn vào năm 2000 và năm sau đó là với Dragontown. The Eyes of Alice Cooper được tung ra thị trường vào năm 2003. Dirty Diamonds là album mới nhất của anh trong năm 2005.

Tạo website bán hàng với WordPress

Like this Article? Share it!

Về tác giả

là người sáng lập ra VnRock.com cách đây 9 năm. Anh theo dõi thường xuyên sự phát triển của nhạc Rock tại Việt Nam và là người chịu trách nhiệm về việc marketing và định hướng phát triển cho VnRock.com. Chuyên gia của các bài phỏng vấn :D

Comments are closed.